Xuất khẩu được kỳ vọng là ‘điểm sáng’ trong bức tranh kinh tế ‘xám màu’

 

Theo Tổng cục Thống kê, trong 8 tháng năm 2023, có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58,4%. Ảnh: TL.

Theo Tổng cục Thống kê, trong 8 tháng năm 2023, có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58,4%. Ảnh: TL.

Sáng 29/8, Tổng cục Thống kê công bố báo cáo kinh tế xã hội tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2023. Theo đó, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,88% so với tháng trước. Bình quân 8 tháng năm 2023, CPI tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,57%. Giá xăng dầu, giá gạo trong nước tăng theo giá thế giới, giá nhà ở thuê tăng theo nhu cầu là những “áp lực” chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2023 tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước

 Về sản xuất công nghiệp tính chung 8 tháng năm 2023 ước tính giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,2%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo giảm 0,6% (cùng kỳ năm 2022 tăng 10,1%); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,8%; ngành khai khoáng giảm 2,5%, làm giảm 0,4 điểm phần trăm.  

Trong 8 tháng năm 2023, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực giảm so với cùng kỳ năm trước gồm: Ô tô giảm 20,4%; điện thoại di động giảm 17,7%; thép thanh, thép góc giảm 15,5%; xe máy giảm 7,4%; quần áo mặc thường giảm 5,8%; xi măng giảm 5,6%; linh kiện điện thoại giảm 4,7%.

Trong tháng 8, cả nước có hơn 14.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 6.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 10,9% so với tháng trước và giảm 3,1% so với cùng kỳ năm 2022; có 5.178 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, giảm 24,8% và tăng 37,9%; có 5.216 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 0,8% và tăng 17,1%; có 1.375 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 13% và giảm 29,6%.

Tính chung 8 tháng năm 2023, cả nước có 149.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 0,03% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 18.700 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 124.700 doanh nghiệp, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 15.600 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Tổng thu ngân sách Nhà nước (NSNN) tháng 8 ước đạt 88.100 tỷ đồng. Lũy kế tổng thu NSNN 8 tháng năm 2023 ước đạt 1.124,5 nghìn tỷ đồng, bằng 69,4% dự toán năm và giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng chi NSNN tháng 8 ước đạt 139.000 tỷ đồng; lũy kế 8 tháng năm 2023 ước đạt 1.081,2 nghìn tỷ đồng, bằng 52,1% dự toán năm và tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. 

Đặc biệt, đà nhập khẩu vẫn “trượt dài” theo xu hướng hẹp. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8 năm 2023 ước đạt 28,55 tỷ USD, giảm 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 10,25 tỷ USD, giảm 1,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,3 tỷ USD, tăng 10,2%.

Tính chung 8 tháng năm 2023, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 207,52 tỷ USD, giảm 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 73,95 tỷ USD, giảm 14,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 133,57 tỷ USD, giảm 17%. 

Song, “ngược chiều” với nhập khẩu, điểm sáng đáng chú ý là liên tục trong 4 tháng gần đây, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đều có mức độ tăng trưởng hơn so với tháng liền kề trước đó. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 8/2023 ước đạt 32,37 tỷ USD, tăng 7,7% so với tháng trước. Nếu so sánh với các tháng 5 (tăng 4,3%); tháng 6 (tăng 4,5%); tháng 7 (tăng 0,8%) thì mức tăng của tháng 8 là rất khả quan. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,43 tỷ USD, tăng 8,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 23,94 tỷ USD, tăng 7,3%. 

Xét về tỷ trọng hàng xuất khẩu của Việt Nam, chiếm tỷ lệ cao nhất là máy tính và linh kiện (25%), tiếp đến là điện thoại các loại và linh kiện (23%). Đáng chú ý, mặt hàng rau quả đã có sự bứt phá rất mạnh trong thời gian qua. Kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 8 tháng qua ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng gần 56% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức cao kỷ lục từ trước tới nay của ngành rau quả. Trong đó, mặt hàng sầu riêng từ kim ngạch “không đáng kể” đã vươn lên trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất. Dự kiến, năm 2023, nhiều khả năng xuất khẩu rau quả sẽ cán đích ở cột mốc lịch sử 5 tỉ USD.

Hoặc với ngành dệt may, xuất khẩu hàng dệt may đạt 3,27 tỷ USD, tăng 6,8% so với tháng trước. Đây cũng là tháng đạt mức trị giá cao nhất trong vòng 11 tháng gần đây. Dệt may đang có dấu hiệu phục hồi tốt ở nhiều thị trường.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, năm 2023, ngành hàng dệt may kỳ vọng đạt kim ngạch xuất khẩu 40 đến 41 tỷ USD. Hiện nay, dệt may là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng.

Nhiều chuyên gia thương mại cho rằng, Bộ Công Thương cần nghiên cứu và giám sát thị trường đối với từng phân khúc, từng nhóm thị trường để xây dựng các thể chế nhằm xuất khẩu bền vững. Ảnh: TL.

Nhiều chuyên gia thương mại cho rằng, Bộ Công Thương cần nghiên cứu và giám sát thị trường đối với từng phân khúc, từng nhóm thị trường để xây dựng các thể chế nhằm xuất khẩu bền vững. Ảnh: TL.

Thay đổi quyết liệt để “đổi màu” bức tranh kinh tế 

 Các chuyên gia kinh tế cho rằng, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy xuất khẩu của Việt Nam sẽ phục hồi trong quý IV/2023. Sự phục hồi này nhiều khả năng sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP của Việt Nam từ dưới 5% trong năm 2023 lên 6,5% trong năm 2024.

Tuy nhiên, dù đang có những “vùng sáng”, song, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn đang gặp khó vì nhu cầu thị trường toàn cầu giảm mạnh. Việc nền kinh tế tiếp tục xuất siêu lớn làm dấy lên nỗi lo sản xuất công nghiệp và xuất khẩu tiếp tục gặp khó trong thời gian tới. Bởi kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, nhưng nhập khẩu thời gian qua giảm chứng tỏ doanh nghiệp vẫn đang thiếu đơn hàng nên chưa có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào.

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, thời gian qua, Bộ Công Thương đã có nhiều hành động hỗ trợ doanh nghiệp bằng công tác xúc tiến thương mại, xây dựng những thể chế môi trường để xuất khẩu tốt nhất,  song, có những điều “vượt quá sức lực” của Bộ Công Thương và cần quyết định từ Chính phủ. Đó là các vấn đề về đa dạng hóa thị trường và mở thị trường mới cho các doanh nghiệp, nhất là thị trường các nước châu Phi, châu Mỹ La Tinh, thậm chí ngay cả châu Âu.

“Tại khu vực châu Âu, vai trò của Bộ Công Thương đang bị hạn chế, bởi khi các doanh nghiệp Việt muốn xuất khẩu sang Nga, hay các nước SND thì đang lo ngại bị Mỹ trừng phạt gián tiếp. Chính vì vậy, với các vấn đề này cần đến Chính phủ với công tác ngoại giao và các hoạt động cấp cao”, ông Phong nêu quan điểm.

Đồng thời nhấn mạnh, thời gian tới, Bộ Công Thương cần nghiên cứu và giám sát thị trường đối với từng phân khúc, từng nhóm thị trường để xây dựng các thể chế nhằm xuất khẩu bền vững và không bị trừng phạt trong tình hình thế giới căng thẳng như hiện nay. Ngoài ra, cần phải cập nhật các hàng rào kỹ thuật, thông báo cho các doanh nghiệp biết sớm để thực hiện đầy đủ và vượt qua được các hàng rào này…

Bên cạnh đó, như lưu ý của giới chuyên gia, khi kinh tế Trung Quốc thực sự rơi vào giảm phát sẽ kéo theo nhiều hệ lụy cho các quốc gia tập trung xuất khẩu vào thị trường lớn nhất thế giới này. Cho nên đây là điều mà các doanh nghiệp cần hết sức lưu tâm, thận trọng theo dõi sát sao những biến động về tình hình kinh tế và sức tiêu thụ ở đây để có những đối sách phù hợp, tránh những tác động tiêu cực trong quá trình xuất khẩu. 


Nguồn tham khảo