Thống đốc NHNN giải trình tín dụng tăng trưởng chậm

Đại biểu Trần Thị Vân (Bắc Ninh) tỏ ra sốt ruột khi tín dụng tăng trưởng rất chậm và đề nghị Thống đốc cho biết nguyên nhân và giải pháp của  Ngân hàng Nhà nước để tăng trưởng tín dụng đạt 14% như mục tiêu đề ra trong khi chỉ còn hai tháng nữa là hết năm 2023.

Trả lời, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng nói, lý do tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm thấp chủ yếu là do cầu tín dụng suy giảm, đơn hàng của doanh nghiệp giảm sút, khả năng khai thác cầu nội địa khó khăn do người dân khó khăn sau đại dịch Covid-19.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo rút ngắn thủ tục cho vay hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, có kiến nghị các bộ, ngành liên quan thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện tín dụng, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa được cải thiện. Nguồn cung tín dụng được điều hành theo hướng thuận lợi nhất cho các ngân hàng cung tín dụng ra nền kinh tế.

 

 Đại biểu Quốc hội tranh luận liên quan đến vấn đề tín dụng. Ảnh Quochoi.vn.

Cũng về tín dụng, đại biểu Nguyễn Quang Huân (Bình Dương) chất vấn thêm NHNN đã thực hiện Nghị quyết Quốc hội yêu cầu nghiên cứu hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với các ngân hàng đến đâu.

Về vấn đề này, Thống đốc cho biết, room tín dụng là một trong các giải pháp điều hành của NHNN, cùng với các công cụ chính sách khác và được điều hành bám sát với chỉ đạo  yêu cầu của Quốc hội và Chính phủ.

Mức tăng trưởng tín dụng hàng năm được Ngân hàng Nhà nước đưa ra định hướng đầu năm. Còn phân bổ hạn mức tín dụng dựa theo xếp hạng các tổ chức tín dụng, có tiêu chí rõ ràng về định lượng, định tính, quan trọng nhất là dựa trên kết quả xếp hạng các tổ chức tín dụng.

Mặc dù Nghị quyết của Quốc hội đã yêu cầu NHNN tiến tới xóa bỏ room tín dụng song NHNN đã tổ chức tọa đàm tham vấn ý kiến các chuyên gia kinh tế, các đại biểu quốc hội và các ý kiến đều thống nhất ở thời điểm này chưa thể bỏ cách điều hành phân bổ chỉ tiêu tín dụng. Bởi hiện nay nhu cầu vốn nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang ở mức cảnh báo của WB, nếu bỏ chỉ tiêu này có thể làm tỷ lệ này càng trở nên rủi ro.

Theo Thống đốc, chỉ có thể bỏ room tín dụng khi các phân khúc khác của hị trường vốn hoàn thiện.

“Chúng tôi tiếp tục điều hành bằng cách này đến khi các phân khúc khác của thị trường tài chính như trái phiếu doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu thì việc bỏ cách điều hành phân bổ chỉ tiêu tín dụng sẽ khả thi hơn”, Thống đốc cho hay.

Báo cáo Quốc hội trước đó, Thống đốc cũng cho hay, việc duy trì công cụ hạn mức tín dụng là nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần tích cực trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô. Việc dỡ bỏ biện pháp này cần thận trọng, đảm bảo các điều kiện cần thiết và từng bước thực hiện phù hợp với điều kiện thị trường.

Chất vấn Thống đốc NHNN, Đại biểu Ma Thị Thúy – Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang nêu rõ, thực hiện Nghị quyết 42, đến nay việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu, kém chưa đạt tiến độ đề ra. Đại biểu đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết nguyên nhân của tồn tại, hạn chế và giải pháp để đẩy nhanh tiến độ việc xử lý các tổ chức tín dụng, qua đó đảm bảo an toàn hệ thống?

 

  Đại biểu Ma Thị Thúy – Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang chất vấn Thống đốc Ngân hàng. Ảnh Quochoi.vn.

Bên cạnh đó, ngày 24/6/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28 về chính sách tín dụng ưu đãi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030. Đại biểu đề nghị Thống đốc cho biết kết quả thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi trong thời gian qua, chỉ rõ khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân cũng như giải pháp thực hiện trong thời gian tới?

Trả lời đại biểu,  Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết, Ngân hàng đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 28. Đây là Nghị định được ban hành sớm nhất trong số các nghị định triển khai Nghị quyết số 43 của Quốc hội và Nghị quyết 11 của Chính phủ.

Sau khi Nghị định 28 ban hành, Ủy ban Dân tộc và Bộ Y tế đã ban hành thông tư hướng dẫn và trong quá trình thực hiện hai cơ quan này cũng đã ban hành các thông tư để sửa đổi, thay thế. Kết quả, đến nay việc thực hiện giải ngân đã được triển khai đúng quy chế, số dư nợ cho vay các chính sách theo chương trình này đạt 1.996 tỷ đồng, với hơn 40.000 khách hàng còn dư nợ.

 Tuy nhiên, qua đánh giá cho thấy khó khăn nhất để triển khai giải ngân chương trình này là phê duyệt các danh sách thuộc đối tượng được hưởng chương trình. Về vấn đề này, Ngân hàng nhà nước cũng rất mong Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quan tâm ban hành danh sách, trên cơ sở đó để ngân hàng chính sách sẽ xã hội sẽ thực hiện giải ngân.

Hiện nay, Chính phủ cũng đang giao Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các cơ quan bộ, ngành tham mưu đề xuất sửa đổi chương trình, trên cơ sở kiến nghị của doanh nghiệp và người dân, cũng như kiến nghị của các địa phương.

Về câu hỏi liên quan đến tín dụng cho các dự án BOT của đại biểu Nguyễn Đại Thắng – Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, nhu cầu vốn cho những các dự án về cơ sở hạ tầng giao thông cần khối lượng vốn rất lớn và với kỳ hạn dài, tính chất nguồn vốn của hệ thống tổ chức tín dụng là nguồn vốn huy động ngắn hạn nên việc cho vay với khối lượng lớn và dài hạn cũng bị ràng buộc. Bởi tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng vừa qua cho thấy, nếu huy động bằng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn có thể dẫn tới rủi ro và hệ lụy cho ngân hàng.

Tính đến ngày 30/9, có 22 tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông, tổng dư nợ 92.319 tỷ đồng. Tuy nhiên, điều đáng chú ý nợ xấu chiếm 3,83%, đáng chú ý nữa, nợ nhóm 2 chiếm đến 26,52% – đây là nhóm nợ sát với nợ nhóm 3 – nợ xấu. Nguyên nhân chủ yếu là các phương án tài chính của các dự án thường không đúng như với phương án tài chính xây dựng ban đầu. Do vậy, chính sách huy động vốn cũng cần phải huy động nhiều nguồn lực tài chính khác, kể cả là trong nước và nước ngoài.

Phát biểu tranh luận tại phiên họp, đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng – Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị đề nghị Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết việc duy trì room tín dụng thì có nguy cơ tạo cơ chế xin cho và nảy sinh các tiêu cực khác hay không?

 

 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng. Ảnh Quochoi.vn.

Giải đáp thắc mắc đại biểu, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng khẳng định, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức các buổi tọa đàm với chuyên gia và với đại biểu Quốc hội, qua phân tích, đánh giá, các đại biểu đều thống nhất rằng, với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, vốn phụ thuộc vào vốn tín dụng của ngân hàng rất lớn; tỷ lệ dư nợ trên GDP trên 120% GDP và đang ở mức cảnh báo theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế. Nhu cầu vốn này của hệ thống ngân hàng vẫn còn một nguồn vốn dài hạn từ hệ thống ngân hàng. Vì vậy, nếu bỏ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng có thể tín dụng sẽ tăng rất mạnh, có thể rủi ro đối với hệ thống ngân hàng.

Vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm và có nhiều hội nghị phát triển thị trường vốn để phát triển phân khúc khác của thị trường vốn như trái phiếu doanh nghiệp để đảm bảo nhu cầu vốn trung và dài hạn. Còn các tổ chức tín dụng chủ yếu cung ứng nguồn vốn ngắn hạn và vốn lưu động.

Để tránh trường hợp tùy ý trong việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với tổ chức tín dụng, Ngân hàng nhà nước hàng năm có định hướng nhưng trên cơ sở này cũng có nguyên tắc chung, đó là xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, có một số tiêu chí khác như mặt bằng lãi suất giảm, tham gia vào quá trình tái cấu trúc… sẽ được cộng điểm.

Đối với tranh luận của đại biểu Phạm Văn Hòa – Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp liên quan đến các ngân hàng thương mại đang trong diện theo dõi, liệu có xảy ra tình trạng giống như vụ việc xảy ra ở Ngân hàng SCB hay không? Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc xây dựng đề án tái cơ cấu ngân hàng yếu kém là việc rất khó, chưa có tiền lệ, năng lực cán bộ còn hạn chế, cơ chế chính sách hỗ trợ cần sự giúp đỡ từ các cơ quan liên quan. Hiện nay Ngân hàng Nhà nước đang trong quá trình thực hiện theo tiến độ và trình các cơ quan liên quan.

 



Source link