Điểm danh 5 động lực giúp tăng trưởng kinh tế cuối năm

Về đầu tư công, các chuyên gia BVSC nhấn mạnh dư địa còn lớn, kỳ vọng giải ngân 85 – 90% kế hoạch đầu năm. 

 

 Nguồn: BVSC

Số liệu từ Bộ Tài chính cho biết, ước thanh toán đến ngày 30/9/2023 đạt khoảng 363.310 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 51,38% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn cùng kỳ năm 2022 cả về số tương đối và số tuyệt đối. Năm 2022, tỷ lệ giải ngân sau 9 tháng là 46,7%. Như vậy, tỷ lệ giải ngân 9 tháng năm nay đã cao hơn cùng kỳ năm ngoái 4,68 %. Nếu so về con số tuyệt đối, cao hơn 110.000 tỷ đồng. 

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính riêng trong tháng 9/2023, số vốn kế hoạch đầu tư công năm 2023 giải ngân là 62.968 tỷ đồng. Như vậy, trung bình 9 tháng đầu năm, số vốn đầu tư công giải ngân trong tháng đạt trên 40.000 tỷ đồng/tháng. Mặc dù tốc độ giải ngân đã tăng lên nhanh chóng từng tháng, nhưng lượng vốn đầu tư công giải ngân đến hết năm ngân sách còn rất lớn (343.794 tỷ đồng, tức 48,62% tổng vốn đầu tư công của năm). 

Chia sẻ trong tài liệu Diễn đàn Thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế, những nút thắt và vai trò của kiểm toán Nhà nước mới đây, PGS TS Đinh Trọng Thịnh – Chuyên gia kinh tế đánh giá, năm 2023 là năm có số vốn đầu tư công cao nhất trong lịch sử với tổng số vốn đầu tư công năm 2023 đã được Quốc hội và Chính phủ giao là 804.420,3 tỷ đồng (bao gồm kế hoạch vốn kéo dài các năm trước sang năm 2023 là 51.542,7 tỷ đồng, kế hoạch vốn giao trong năm 2023 là 752.877,5 tỷ đồng (không bao gồm 12.887,2 tỷ đồng chưa giao). Tổng mức vốn  đầu tư công năm 2023 cao hơn mức vốn đầu tư công được giao năm 2022 khoảng 30%. 

Về đầu tư tư nhân, theo BVSC, đầu tư tư nhân có triển vọng hồi phục khi mặt bằng lãi suất đã về mức rất thấp và môi trường kinh doanh được cải thiện. 

 Nguồn: BVSC

Trong báo cáo mới đây, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho rằng lãi suất huy động chạm đáy sẽ kích thích nhu cầu vay trở lại trong quý IV.

Sau các đợt giảm lãi suất huy động liên tục, hiện tại lãi suất huy động bình quân của khối NHTMCP Nhà nước đã về mức tương đương giai đoạn COVID-19  ở các kỳ hạn ngắn 1 – 3 tháng và kỳ hạn dài từ 12 tháng trở lên.

Tuy nhiên vẫn cao hơn 45 điểm cơ bản so với mặt bằng thấp của giai đoạn COVID ở các kỳ hạn 3 – 6 tháng.

Trong khi đó, lãi suất huy động của khối NHTMCP tư nhân cao hơn từ 50 – 70 điểm cơ bản đối với kỳ hạn 1 – 9 tháng, và chỉ cao hơn từ 15 – 20 điểm cơ bản ở các kỳ hạn 12 tháng trở lên. 

 

VDSC cho rằng kịch bản tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức 11-12% là phù hợp.  Trong khi đó, nhìn về chính sách tiền tệ tổ chức này đánh giá dư địa nới lỏng thêm chính sách tiền tệ không nhiều. Cụ thể, từ sau cuộc họp của FED, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 110.700 tỷ đồng trên thị trường mở qua phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất tín phiếu tăng dần qua các phiên đấu thầu, phiên ngày 4/10 là 1,3%/năm với khối lượng trúng thầu là 10.000 tỷ đồng. Đồng thời, lãi suất liên ngân hàng cũng đã nhích lên, tại ngày 3/10, lãi suất cho vay qua đêm là 0,74%/năm, tăng 0,55 điểm % so với cuối tháng 9. 

“Khi lãi suất huy động chạm đáy cũng là lúc niềm tin kinh doanh và tiêu dùng phục hồi trở lại. Theo đó, điểm đáy của lãi suất huy động sẽ kích hoạt tâm lý vay đầu tư và tiêu dùng trở lại. Do đó, chúng tôi cho rằng kịch bản tăng trưởng tín dụng cả năm ở mức 11 – 12% là phù hợp”, nhóm phân tích dự báo.

Về FDI, BVSC kỳ vọng được hưởng lợi với dòng vốn từ Mỹ sau khi 2 nước trở thành đối tác chiến lược toàn diện. Đơn vị này nhận định dòng vốn FDI vẫn ổn định, đạt 15,9 tỷ USD (tăng 2,2% so với cùng kỳ) trong 9 tháng đầu năm 2023. 

Vốn FDI đăng ký mới 9 tháng đầu năm 2023 tăng mạnh từ mức thấp vào trong năm 2022 lên 10,2 tỷ USD (tăng 43,6% so với cùng kỳ). Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo và bất động sản lần lượt chiếm 84,7% và 5,9% vốn FDI đăng ký mới.   

Đồng quan điểm, Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam mới đây cũng dự báo lạc quan về thu hút FDI vào Việt Nam thời gian tới sau sự kiện Việt Nam – Mỹ nâng cấp quan hệ.  

Các chuyên gia tại đây cho rằng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ có thể mở đường cho các dự án FDI từ nước này đến Việt Nam (chiếm khoảng 2,6% tổng vốn FDI của các dự án còn hiệu lực), đặc biệt trong lĩnh vực bán dẫn và năng lượng tái tạo.       

Với xuất khẩu, BVSC kỳ vọng tăng trưởng dương trở lại trong quý IV. 

Sự phục hồi trong sản xuất công nghiệp phản ánh sự cải thiện liên tục trong xuất khẩu hàng hóa kể từ tháng 5/2023. Bên cạnh đó, trong quý III, khu vực dịch vụ và nông nghiệp vẫn duy trì mức tăng trưởng tương đương với 2 quý trước với con số tăng trưởng lần lượt là 6,2% và 3,7% so cùng kỳ. Hai khu vực này tương ứng đóng góp 2,7 và 0,4 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. 

 Nguồn: TCTK, TCHQ, BVSC tổng hợp

Khu vực công nghiệp phục hồi khiến Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng hàng tháng dương và là tháng thứ năm liên tiếp. IIP tăng 3,5% (so cùng kỳ) trong quý 3 được hỗ trợ bởi tăng trưởng các lĩnh vực sản xuất trong nước và định hướng xuất khẩu như chế biến thực phẩm, dệt may, sản phẩm đồ nội thất, kim loại (thép và nhôm).

Những tín hiệu phục hồi trên góp phần đưa xuất khẩu và nhập khẩu hàng tháng tăng trưởng dương lần đầu tiên sau 10 tháng liên tiếp suy giảm.

Cụ thể, trong tháng 9, xuất khẩu và nhập khẩu tăng tương ứng 5,3% và 2,6% so cùng kỳ. Điều này phản ánh nhu cầu bên ngoài đã có sự cải thiện, đồng thời suy giảm trong thương mại hàng hóa đã chạm đáy. Do vậy, sự suy giảm trong xuất khẩu và nhập khẩu cũng được thu hẹp trong cả quý III, tương ứng mức giảm 1,2% (so với mức giảm 12,2% cùng kỳ) và giảm 5% (so với mức giảm 20,6 cùng kỳ).

Nguồn: TCTK, TCHQ, BVSC tổng hợp 

Sự cải thiện được thể hiện rõ ở xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp như gạo (156% so với cùng kỳ) hay dệt may (121,7% so với cùng kỳ), điện tử và máy tính (110,7% so với cùng kỳ). Cán cân thương mại hàng hóa tổng thể đạt thặng dư 2,3 tỷ USD vào tháng 9 và 21,4 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm do xuất khẩu giảm ít hơn nhập khẩu. Bên cạnh đó, nhập khẩu đang phục hồi nhanh hơn xuất khẩu, báo hiệu các doanh nghiệp đang mong đợi mở rộng sản xuất hơn nữa. Theo khảo sát của S&P Global tại Việt Nam, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu tăng trong cả tháng 8 và tháng 9, đặc biệt là từ các thị trường châu Á.

Xét về thị trường, Mỹ đang chiếm vị trí quan trọng trong xuất khẩu của Việt Nam. Cũng chia sẻ trong tài liệu Diễn đàn Thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế, ông Jonathan Ashworth Kinh tế trưởng, ACCA toàn cầu nhận định, nhiều yếu tố phụ thuộc vào vận may của nền kinh tế toàn cầu trong thời gian ngắn hạn, đặc biệt là với Mỹ và khu vực đồng euro và sự phụ thuộc vào lĩnh vực xuất khẩu sản xuất của Việt Nam.

  Nguồn: BVSC

“Mỹ nói riêng có vai trò quan trọng đối với vận may của Việt Nam, khi là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với trị giá 128,4 tỷ USD vào năm 2022. Cũng cần lưu ý rằng Mỹ và Việt Nam gần đây đã tăng cường quan hệ ngoại giao lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, cấp độ ngoại giao cao nhất của Việt Nam, phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của hợp tác thương mại và đầu tư giữa hai nước”, ông Jonathan Ashworth viết. 

Xét về cuối năm hàng tồn kho một số hàng hoá của Mỹ đã giảm về mức thấp, nhu cầu người dân tăng cao sẽ là những yếu tố kỳ vọng nhu cầu nhập khẩu thị trường này sẽ tăng trở lại .

 Nguồn: Bloomberg, BVSC

Cuối cùng, động lực cho sự tăng trưởng cuối năm đến từ tiêu dùng. BVSC đánh giá, lo ngại lạm phát cùng triển vọng tăng trưởng kinh tế chưa thực sự khởi sắc có thể khiến tiêu dùng vẫn tăng chậm trong quý cuối năm. 


Nguồn tham khảo