5 cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi ở Việt Nam

Tình hình tiêu thụ năng lượng tại VN

Tại Diễn đàn Triển vọng ngành Năng lượng Việt Nam tổ chức sáng 12/10 tại Hà Nội, các chuyên gia, diễn giả nhận định rằng, triển vọng năng lượng Việt Nam thời gian qua nhận được nhiều sự quan tâm và tranh luận của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, các chuyên gia, các tổ chức nghiên cứu và truyền thông. 

 Toàn cảnhDiễn đàn Triển vọng ngành Năng lượng Việt Nam. Ảnh: Mai Trang

Ngành năng lượng Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh trong tất cả các khâu: Thăm dò, khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và xuất nhập khẩu năng lượng. Điều đó góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Tuy vậy, quy mô và hiệu quả ngành năng lượng còn thấp, trạng thái an ninh năng lượng Việt Nam chưa được bảo đảm, hiện tượng “sa thải phụ tải điện” xảy ra thường xuyên vào kỳ cao điểm. Dự trữ dầu quốc gia chưa đủ khả năng bình ổn giá khi xảy ra khủng hoảng giá dầu trên thị trường quốc tế.

Theo số liệu từ Bộ Công Thương, GDP tăng trung bình 7,26%/năm trong giai đoạn 2001-2010 và 5,91% trong giai đoạn 2011-2015. 

Nhu cầu năng lượng tăng khoảng 10% trong giai đoạn 2001-2010, khoảng 7% trong giai đoạn 2011-2019 trong khi nhu cầu về điện tăng 13%/năm trong giai đoạn 2001-2010 và khoảng 9,71% trong giai đoạn 2011-2021.

Phát thải khí nhà kính (KNK) từ ngành năng lượng chiếm khoảng 63% tổng phát thải KNK của Việt Nam năm 2010, khoảng 67,7% năm 2020, và sẽ chiếm khoảng 73,1% và 79,7% vào năm 2030 và 2050 theo kịch bản thông thường.

Trong tương lai, các nguồn năng lượng sơ cấp sẽ không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ năng lượng của nền kinh tế, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu năng lượng sơ cấp. 

 Ảnh: Bộ Công Thương

Cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi ở Việt Nam

Phát biểu tại diễn đàn, Ông Hoàng Việt Dũng – Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công Thương, nhận định: “Hiện nay thế giới đang phụ thuộc chủ yếu vào năng lượng truyền thống như dầu mỏ, than đá, và khí tự nhiên. Những nguồn năng lượng này không chỉ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, từ khí thải gây hiệu ứng nhà kính đến ô nhiễm nước và đất, mà còn đang dần cạn kiệt, đặt ra một mối đe dọa cho cung cấp năng lượng ổn định trong tương lai.

Năng lượng sạch, bao gồm năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió, và thủy điện, cung cấp một giải pháp bền vững, không gây hại cho môi trường, và tái tạo được”. 

Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Đức Cường – Chuyên gia cao cấp về năng lượng của T&T đã nêu 5 cơ hội về phát triển điện gió ngoài khơi (ĐGNK) ở Việt Nam. 

Thứ nhất, Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi lớn

Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km, độ sâu mực nước nông và tốc độ gió cao, ổn định, Việt Nam hội tụ đầy đủ các tiền đề quan trọng, cần thiết để phát triển các dự án ĐGNK đáng tin cậy và có chi phí hợp lý.

Theo đánh giá của Chương trình hỗ trợ quản lý ngành năng lượng/Ngân hàng Thế giới, tổng tiềm năng kỹ thuật ĐGNK của Việt Nam có thể đạt khoảng 475 GW, bao gồm 261 GW loại móng cố định và 214 GW loại móng nổi. Còn theo Chương trình hợp tác đối tác Việt Nam – Đan Mạch, những phát hiện ban đầu đã chỉ ra rằng tiềm năng kỹ thuật ĐGNK của Việt Nam đạt khoảng 160 GW. Còn theo “Quy hoạch Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 sẽ có khoảng 6 GW và đến năm 2050, con số này sẽ tăng gấp 11 -15 lần, dự kiến sẽ đạt khoảng 70 – 91,5 GW. 

Thứ hai, nhu cầu điện của Việt Nam ngày một tăng cao

Có nhiều động lực mạnh mẽ thúc đẩy ngành ĐGNK phát triển nhanh chóng tại Việt Nam, một trong số đó là nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam liên tục tăng trưởng ở mức cao. Trong 10 năm vừa qua, nhịp tăng trưởng nhu cầu điện của Việt nam đạt trung bình ở mức 10%/năm và được dự báo vẫn duy trì mức tăng trưởng cao trong 10 năm tới, trung bình khoảng 8.5%/năm (tại kịch bản cơ sở).

Để đáp ứng nhu cầu điện gia tăng cao hàng năm, Việt Nam cần đầu tư mới với quy mô lớn nguồn điện để tăng công suất. Mức tăng công suất lắp đặt mới trung bình dự kiến khoảng 8,8 GW mỗi năm trong giai đoạn từ năm 2023 đến năm 2030, và khoảng từ 17 GW mỗi năm đến 21 GW mỗi năm trong giai đoạn 20 năm tiếp theo tính từ 2031 đến năm 2050. 

Thứ ba, giá thành sản xuất điện của ĐGNK có xu hướng tiếp tục giảm 

Với những tiến bộ gần đây về công nghệ đã giúp giảm chi phí đầu tư, lắp đặt đưa đến chi phí quy dẫn (LCOE) của ĐGNK trở nên cạnh tranh hơn với các nguồn điện truyền thống. ĐGNK đã ghi nhận mức giảm gần 70% chi phí, việc giảm chi phí này đạt được nhờ một số các yếu tố chính như: 1). Quy mô của các trang trại ĐGNK và gam công suất tuabin gió ngày càng tăng; 2). Cải tiến công nghệ: Từ tua bin đến móng, cáp truyền tải điện năng, lắp đặt, tàu bè và nhiều thứ khác đã được cải tiến và đạt được hiệu suất cao hơn; 3). Chi phí điện quy dẫn (LCOE) giảm mạnh: chi phí điện quy dẫn đầu tư tại Châu Âu đã giảm một nửa khi các nhà đầu tư và Chính phủ các nước đã có kinh nghiệm với công nghệ, khung pháp lý được cải thiện và hiểu chi tiết hơn về các rủi ro liên quan. Xu thế giảm giá vẫn không hề dừng lại, LCOE được dự báo sẽ giảm thêm 30% nữa tại các thị trường ĐGNK đã phát triển và trưởng thành. 

Với nguồn tài nguyên tự nhiên về ĐGNK nổi bật, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt được mức chi phí LCOE như mức chúng được minh chứng tại thị trường Châu Âu. 

Thứ tư, các nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt, nhiệt điện than bị hạn chế phát triển

Thời kỳ sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch giá rẻ đóng vai trò lớn trong sản xuất điện thời gian qua được dự báo là sẽ có rất nhiều bất định bởi, sự suy cạn dần về trữ lượng khai thác cũng như tình trạng có thể gián đoạn nguồn cung trong chuỗi cung ứng mà đi kèm theo đó là giá nhiên liệu tăng và có thể tăng rất cao bất thường do các yếu tố thiếu ổn định về địa chính trị. Do vậy, nếu không sớm có các giải pháp chuyển dịch năng lượng mạnh mẽ thì trong tương lai, Việt Nam sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung và giá năng lượng thế giới bởi, tiềm năng nguồn thuỷ điện lớn của Việt Nam cơ bản sẽ được khai thác hết trong thập kỷ này trong khi nguồn khí thiên nhiên cơ bản đã đạt ngưỡng và đang đi xuống, còn nguồn than mỏ trong nước có giới hạn cả về trữ lượng lẫn khả năng khai thác, sử dụng.

Thứ năm, nhu cầu chuyển dịch năng lượng mạnh mẽ gắn với cam kết giảm phát thải khí nhà kính 

Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) với các cam kết chính trị mạnh mẽ của nhiều nước trong đó có Việt Nam về cắt giảm khí nhà kính cho thấy xu hướng xanh hóa trong sản xuất cũng như tiêu dùng, đặc biệt là trong sản xuất, tiêu thụ năng lượng cũng như chuyển dịch năng lượng đang trở thành vấn đề cấp thiết, quan trọng trong sách lược phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường của các nước trong đó có Việt Nam. 

Việc Việt Nam cam kết đạt mục tiêu khử các bon hoàn toàn vào giữa thế kỷ này càng khiến cho Việt Nam này trở thành điểm đến hấp dẫn để các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào cơ sở hạ tầng năng lượng tái tạo, đặc biệt là ĐGNK. Hơn thế nữa, ĐGNK được coi là nguồn năng lượng không phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính do vậy, ĐGNK được kỳ vọng sẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu cam kết giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 của VN.

Tuy nhiên, ông Cường cũng cho rằng, với riêng doanh nghiệp vẫn còn những thách thức trong quá trình phát triển ĐGNK, đến từ khung chính sách chưa đầy đủ và hoàn thiện; thiếu kinh nghiệm trong phát triển. Bên cạnh đó, mặc dù đã giảm nhưng chi phí quy dẫn (LCOE) vẫn còn cao và có sự chênh lệch về chi phí quy dẫn LCOE khá lớn giữa các vùng/miền của Việt Nam và cuối cùng là thời gian còn lại không nhiều chỉ còn 7 năm để thực hiện đạt mục tiêu 6 GW là một thách thức rất lớn. 

Từ đó, vị chuyên gia đề xuất một vài giải pháp để thúc đẩy phát triển ĐGNK ở Việt Nam như: Sớm hoàn thiện khung chính sách về phát triển các nguồn năng lượng tái tạo nói chung, ĐGNK nói riêng; Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm xem xét cấp phép cho khảo sát, đo gió cho các dự án ĐGNK; Chính phủ và các Bộ ngành xem xét cho thực hiện giai đoạn chuyển tiếp; Cần có sự phối hợp và đồng bộ giữa các Bộ ban ngành; Cần quan tâm tới phát triển công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho ngành ĐGNK.


Nguồn tham khảo